Đăng: 09:13 05-11-2014 | Tác giả: | Nguồn:
Số lượng lao động xã hội trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi) đang làm việc trong các thành phần kinh tế có hơn 50,3 triệu người; số lao động làm công, hưởng lương có khoảng 15 triệu người, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có hơn 1,7 triệu người. Số lao động đang làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài có hàng chục vạn người. Mỗi năm cả nước tăng khoảng hơn 1 triệu người bước vào tuổi lao động.
b. Cơ cấu:
Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ ở các ngành giáo dục, y tế, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng và khu vực kinh tế ngoài nhà nước; giảm tỷ lệ ở các ngành nông, lâm nghiệp và khu vực kinh tế nhà nước. Lực lượng lao động trực tiếp sản xuất có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao ngày càng nhiều.
c. Chất lượng:
- Lao động có tuổi đời trẻ, có trình độ học vấn, nghề nghiệp khá hơn trước, có khả năng tiếp cận với khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại.
- Đa số có ý thức chính trị, tin tưởng, ủng hộ đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; có tinh thần yêu nước, đoàn kết; có ý thức vươn lên, cố gắng học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ.
Tuy nhiên, một bộ phận công nhân còn thờ ơ, không quan tâm đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước; hạn chế về nhận thức chính trị, nhận thức về Đảng, về giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn, hiểu biết chưa đầy đủ về pháp luật, chính sách; thiếu kiến thức thực tiễn, ý thức trách nhiệm chưa cao; cán bộ quản lý và chuyên gia giỏi, công nhân kỹ thuật bậc cao chưa nhiều; trình độ nghề nghiệp của khá đông lao động trực tiếp sản xuất còn thấp, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm làm việc; thể lực chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp phát triển; kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp yếu, còn mắc tệ nạn xã hội. Tỷ lệ đảng viên là công nhân trực tiếp sản xuất còn thấp.
2. Việc làm, tiền lương, thu nhập, nhà ở và điều kiện sống của công nhân, viên chức, lao động
a. Việc làm:
- Vấn đề giải quyết việc làm đạt một số kết quả tích cực.
- Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm hàng năm đã giải quyết được hơn 1,0 triệu việc làm mới cho người lao động. Song, vẫn còn hàng trăm ngàn lao động thất nghiệp và thiếu việc làm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới và trong nước…
b. Tiền lương, thu nhập:
- Chính sách tiền lương tuy đã được điều chỉnh, bổ sung nhưng chưa được cải tiến, đổi mới cơ bản. Mức lương tối thiểu thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu sống tối thiểu của người lao động; chưa khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ; có sự bất hợp lý giữa tiền lương người lao động trong doanh nghiệp và cán bộ, công chức…
c. Nhà ở và điều kiện sống của công nhân, lao động:
Chính phủ đã ban hành một số chính sách về nhà ở và đất ở. Một số địa phương, doanh nghiệp đã triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu nhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn, bất cập. Số lao động được ở trong các khu nhà lưu trú do Nhà nước và doanh nghiệp xây dựng chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt khoảng 5%. Hàng chục vạn lao động vẫn phải thuê chỗ ở, sống và sinh hoạt trong những khu nhà trọ tạm bợ, thiếu thốn, không đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu, không an toàn, dễ phát sinh các tệ nạn xã hội. Ở hầu hết các khu công nghiệp tập trung không có nhà trẻ, trường mẫu giáo phục vụ việc nuôi dạy, học tập cho con công nhân, lao động.
3. Điều kiện làm việc, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Điều kiện và môi trường làm việc của người lao động chậm được cải thiện, nhất là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất cá thể; tình trạng
công nghệ, thiết bị lạc hậu, lao động thủ công, nặng nhọc và độc hại vẫn chiếm tỷ lệ cao; phương tiện bảo vệ cá nhân còn thiếu và kém chất lượng; công nhân, lao động vẫn phải làm việc trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm, không đảm bảo các điều kiện về vệ sinh, an toàn lao động. Mức ăn giữa ca của người lao động thấp, chất lượng an toàn thực phẩm bữa ăn không đảm bảo, đã có hàng trăm công nhân, lao động bị ngộ độc thực phẩm.
Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vẫn xảy ra nhiều. Việc phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động ở nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức, số người mắc bệnh mãn tính do nghề nghiệp tăng cao, sức khoẻ bị giảm sút. Các vi phạm về an toàn và vệ sinh lao động không được xử lý nghiêm minh, kịp thời.
4. Tình hình thực hiện pháp luật lao động, tranh chấp lao động và đình công
Tình trạng vi phạm pháp luật về lao động trong các doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước diễn ra phổ biến, trong đó chủ yếu là vi phạm những quy định về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, nợ lương, vi phạm những quy định về giao kết hợp đồng lao động và việc ký thoả ước lao động tập thể, không thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động… Đặc biệt, tình trạng doanh nghiệp trốn tránh, chiếm dụng, nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn nghiêm trọng, với số tiền hàng ngàn tỷ đồng. Vẫn còn tình trạng người lao động ở một số doanh nghiệp bị xúc phạm thân thể, nhân phẩm.
Tranh chấp lao động tập thể và đình công những năm qua vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, xảy ra trong tất cả các loại hình doanh nghiệp, tập trung nhiều ở các tỉnh, thành phố lớn và các khu công nghiệp tập trung, ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài nhà nước.
5. Tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng của người
lao động
- Đa số công nhân, viên chức, lao động tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
- Băn khoăn, lo lắng, không yên tâm trước tình hình việc làm, thu nhập, đời sống có nhiều khó khăn;
- Bức xúc, bất bình trước tình trạng mất dân chủ, buông lỏng quản lý kinh tế – xã hội, thiếu kỷ luật, kỷ cương, vi phạm pháp luật;
- Mong muốn đất nước ổn định, kinh tế – xã hội phát triển; bản thân và con em đến tuổi lao động có việc làm thường xuyên và thu nhập đủ sống; được học tập nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp; các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng được bảo đảm; đời sống văn hoá, tinh thần được quan tâm hơn; tổ chức Công đoàn ngày càng lớn mạnh, thật sự vì đoàn viên và người lao động, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt chức năng của Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước, thực sự là người đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động.
II. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN NHIỆM KỲ X (2008 – 2013)
1. Đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động
- Các cấp công đoàn chủ động, tích cực tổ chức tập hợp ý kiến của đông đảo đoàn viên và người lao động tham gia xây dựng, hoàn thiện hàng trăm Luật, Pháp lệnh, Nghị định, các chính sách, chế độ đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động như: Bộ luật Lao động (sửa đổi) và Luật Công đoàn…
- Tham gia sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; tham gia sắp xếp lại lao động, giải quyết chế độ cho lao động dôi dư, đảm bảo việc làm và các quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho hàng trăm ngàn lao động.
- Phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, hàng năm có hơn 95% cơ quan, đơn vị mở Hội nghị cán bộ công chức và hơn 93% doanh nghiệp nhà nước mở Đại hội công nhân, viên chức, hơn 55% công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có tổ chức Công đoàn mở Hội nghị người lao động.
- Công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện ký kết Thoả ước lao động tập thể được triển khai đồng bộ, số đơn vị thực hiện ký kết Thoả ước lao động tập thể hàng năm đạt bình quân 64,6%.
- Thường xuyên tự tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng của Nhà nước tổ chức hàng ngàn cuộc kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.
- Hoạt động tư vấn pháp luật của 14 trung tâm, 33 văn phòng, 585 tổ tư vấn thuộc 40 Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố đã hướng về cơ sở với những hình thức phù hợp, thiết thực, hiệu quả; đã tư vấn được hàng chục ngàn vụ, góp phần bảo vệ quyền lợi của người được tư vấn.
- Tổ chức thực hiện “Tuần lễ Quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ” và “Ngày môi trường thế giới”, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về bảo hộ lao động.
- Hệ thống 41 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm của tổ chức Công đoàn từ năm 2009 đến năm 2011 đã đào tạo nghề, tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho hơn 153 ngàn người.
- Hoạt động Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm và các loại quỹ trợ giúp khác của Công đoàn ngành, địa phương, cơ sở đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xoá đói, giảm nghèo cho hàng vạn đoàn viên công đoàn và người lao động.
- Hoạt động xã hội, đền ơn, đáp nghĩa của Công đoàn được triển khai thường xuyên và sâu rộng tới mọi đối tượng cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú. Cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu, đóng góp chủ yếu trong các cuộc vận động xã hội, nhân đạo, xây dựng các quỹ: “Xã hội từ thiện Tấm lòng vàng”, “Vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xoá đói giảm nghèo”, “Mái ấm công đoàn”… do Mặt trận Tổ quốc và công đoàn các cấp phát động với giá trị hàng trăm tỷ đồng mỗi năm.
2. Công tác tuyên truyền, giáo dục đoàn viên và người lao động góp phần xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh
- Có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, phù hợp với thực tế từng loại hình công đoàn cơ sở, sát thực tiễn đời sống của đoàn viên và người lao động và yêu cầu hoạt động công đoàn như biên soạn các loại tờ gấp, sổ tay bỏ túi dành cho công nhân, lao động, cán bộ công đoàn cơ sở; chú trọng phát triển hệ thống truyền thanh nội bộ, tuyên truyền miệng, lồng ghép vào hoạt động văn hoá, thể thao…
Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn đã cụ thể hoá và tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” và Chương trình hành động của Công đoàn thực hiện Nghị quyết đến các ngành, địa phương, cơ sở. Việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng nếp sống văn hoá trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… được các cấp công đoàn triển khai với nhiều nội dung cụ thể, thiết thực, có sự tham gia của hàng triệu đoàn viên và người lao động.
Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật theo Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ gắn liền với tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội X Công đoàn Việt Nam… được các cấp công đoàn quan tâm chỉ đạo, tập trung chủ yếu vào công nhân, lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã tạo được sự đồng thuận và tranh thủ được nguồn kinh phí góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức hiểu biết pháp luật cho đoàn viên và người lao động.
Một số nơi đã xây dựng các tổ tự quản công nhân và các tủ sách pháp luật về lao động và công đoàn tại khu nhà trọ của đoàn viên và người lao động. Tính đến cuối năm 2011, cả nước có gần 5000 tổ tự quản công nhân.
Các cấp công đoàn đã có nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền thực hiện Chương trình phát triển 1,5 triệu đoàn viên, trong đó việc biên soạn tờ gấp, sổ tay tuyên truyền pháp luật với nội dung hỏi – đáp ngắn gọn, dễ hiểu về quyền lợi, nghĩa vụ của đoàn viên, người lao động là một trong những biện pháp tuyên truyền đạt hiệu quả cao.
Chương trình “Tấm lưới nghĩa tình” vì ngư dân Hoàng Sa, Trường Sa thu hút sự hưởng ứng của hàng triệu lượt đoàn viên và người lao động, tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước và các cấp công đoàn từ trung ương đến địa phương với số tiền hỗ trợ hàng chục tỷ đồng.
Hoạt động “Tháng Công nhân” chính thức được công đoàn phát động trong cả nước năm 2011 gắn với kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động (1/5) đã thu hút hàng triệu lượt người tham gia, mang lại những kết quả cụ thể, thiết thực, đánh dấu bước phát triển trong đổi mới hình thức tập hợp đoàn viên, người lao động. Nhiều ngành, địa phương đã tổ chức các hoạt động như: “Cùng công nhân vượt khó”, “Chăm lo đời sống công nhân”, “Tuần lễ thanh niên công nhân”, “Hát cho công nhân nghe, nghe công nhân hát”, hiến kế tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, chia sẻ khó khăn với đoàn viên, người lao động bị tai nạn lao động, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đưa các hoạt động văn hoá, thể thao đến cơ sở…
Các phương tiện truyền thông của công đoàn, các chương trình phối hợp với Báo Nhân dân, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam… đã thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền về tổ chức công đoàn, nhất là tuyên truyền về những kinh nghiệm, các gương điển hình tiên tiến trong đoàn viên và người lao động.
Các hoạt động văn hoá, thể thao trong công nhân, viên chức, lao động do công đoàn tổ chức ngày càng phát triển, nhất là ở các ngành, địa phương có đông công nhân. Hoạt động của 24 Cung văn hoá, Nhà văn hoá lao động và hàng trăm Câu lạc bộ công nhân do Công đoàn quản lý đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho đoàn viên và người lao động tại địa phương, cơ sở.
Công tác phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội trong đoàn viên và người lao động có nhiều chuyển biến tốt. Vai trò công đoàn trong công tác phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, mại dâm để bảo vệ sức khoẻ đoàn viên và người lao động ngày càng được khẳng định.
Công tác vận động đoàn viên, người lao động tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tham gia cải cách hành chính, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được các cấp công đoàn được tiến hành thường xuyên. Trong những năm qua, tổ chức Công đoàn đã giới thiệu hơn 400.000 đoàn viên công đoàn ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng để phát triển Đảng và đã có gần 100.000 người được kết nạp vào Đảng, trong đó công nhân lao động trực tiếp sản xuất, cán bộ công đoàn cơ sở chiếm từ 8 đến 10%.
5 năm qua, Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn đã chủ trì và tham gia nghiên cứu 21 đề tài cấp Nhà nước; 134 đề tài cấp bộ; 650 đề tài cấp cơ sở. Các đề tài đã góp phần quan trọng vào xây dựng và hoàn thiện các chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động công đoàn.
3. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong đoàn viên và người lao động
Các phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, “Thi đua phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn”, “Thi đua học tập nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển”, “Xanh, sạch, đẹp, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “An toàn giao thông”, “Xây dựng nông thôn mới”, xây dựng người cán bộ, công chức, viên chức “Trung thành, Sáng tạo, Tận tuỵ, Gương mẫu”, “Xây dựng cơ quan, đơn vị văn hoá, ngày làm việc 8 giờ chất lượng, hiệu quả”, thi đua trên các công trình trọng điểm quốc gia… luôn gắn với nhiệm vụ chính trị và được thực hiện sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, được đông đảo đoàn viên và người lao động hưởng ứng, tham gia, nhất là trong dịp chào mừng các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, của Công đoàn[1]… Mục tiêu, nội dung thi đua đã đáp ứng được yêu cầu của đất nước, ngành, địa phương, cơ sở trong từng thời gian, có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền, cơ quan, đoàn thể liên quan.
Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết thi đua, xây dựng và học tập điển hình tiên tiến được coi trọng. Việc bình bầu các danh hiệu thi đua đi vào thực chất. Hàng năm, số tập thể, cá nhân đạt danh hiệu tiên tiến, lao động giỏi, chiến sĩ thi đua các cấp ngày càng tăng lên. Tổng Liên đoàn đã tổ chức tuyên dương, trao giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh lần II năm 2013 cho những gương mặt tiêu biểu trong CNLĐ.
Công tác khen thưởng tiếp tục có những chuyển biến, chính xác, kịp thời hơn, góp phần khắc phục bệnh thành tích và hình thức trong thi đua.
4. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn và đội ngũ cán bộ công đoàn
Tính đến hết năm 2012, cả nước có hơn 7,9 triệu đoàn viên và hơn 114 ngàn công đoàn cơ sở. So với năm 2008, tăng hơn 1,7 triệu đoàn viên và hơn 21 ngàn cơ sở.
Đến nay, hầu hết các ngành, địa phương đã xây dựng đề án và triển khai thực hiện tại cơ quan công đoàn tỉnh, thành phố, ngành trung ương, tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn đã giảm một số ban nghiệp vụ. Để mở rộng đối tượng tập hợp và đổi mới hoạt động, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã thí điểm thành lập công đoàn ngành dệt – may địa phương, thành lập nghiệp đoàn nghề cá và thu được kết quả bước đầu.
Nội dung và phương thức hoạt động công đoàn có bước đổi mới, đã làm rõ hơn về mô hình tổ chức, nội dung, nhiệm vụ của từng cấp công đoàn, từng loại hình công đoàn cơ sở.
Từ năm 2008 đến nay, đã có hàng trăm ngàn lượt cán bộ công đoàn được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ công tác công đoàn và nhiều nội dung, chương trình khác; có hàng trăm lượt cán bộ công đoàn được bồi dưỡng, tập huấn ở nước ngoài…
Chất lượng cán bộ công đoàn nhìn chung được nâng lên cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác công đoàn, về lý luận chính trị và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ công đoàn chuyên trách ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đông đoàn viên được quan tâm hơn. Công tác cán bộ từng bước đi vào nền nếp; việc đánh giá hàng năm, việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, cử đi cơ sở, khen thưởng, kỷ luật, thực hiện chính sách đối với cán bộ được Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước, Tổng Liên đoàn.
Tỷ lệ công đoàn cơ sở đạt tiêu chuẩn vững mạnh bình quân hàng năm đạt gần 77%; riêng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước đạt hơn 84%; trong đó có gần 40% đạt tiêu chuẩn công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc, vượt chỉ tiêu Đại hội X đề ra .
5. Công tác kiểm tra của công đoàn
Uỷ ban kiểm tra công đoàn các cấp tổ chức 299.656 cuộc kiểm tra chấp hành Điều lệ Công đoàn; 279. 060 cuộc kiểm tra quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công đoàn; 22.445 cuộc kiểm tra tổ chức và đoàn viên có dấu hiệu vi phạm Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của công đoàn; tiếp 40.183 lượt người, nhận 30.774 đơn khiếu nại, đơn tố cáo, giải quyết và tham gia giải quyết 24.983 đơn khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật và của Tổng Liên đoàn. Đã có 452.547 lượt cán bộ làm công tác kiểm tra được bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, giúp công đoàn các cấp thực hiện tốt Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
6. Công tác vận động lao động nữ
Công đoàn các cấp đã tham gia có hiệu quả với vai trò thành viên Uỷ ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, thực hiện tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nữ đoàn viên và lao động nữ; tập trung nghiên cứu tham gia xây dựng, hoàn thiện và chủ động trong việc triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật liên quan đến lao động nữ và một số chế độ, chính sách khác như tuổi nghỉ hưu của lao động nữ, các chính sách về thai sản…về nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo đáp ứng nhu cầu chính đáng của nữ công nhân, lao động, nhất là lao động nữ hiện đang làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất.
5 năm qua, đã có hàng triệu lượt chị đạt danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” ở 3 cấp; hàng trăm tập thể, cá nhân nữ được tặng cờ thi đua, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và hàng vạn lượt nữ đoàn viên và lao động nữ, gia đình nữ tiêu biểu được biểu dương, tôn vinh ở các cấp.
Hằng năm, công đoàn các cấp thường xuyên tổ chức kiểm tra đánh giá phong trào thi đua trong lao động nữ và hoạt động nữ công ở ngành, địa phương, cơ sở; cử đại diện tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành, tăng cường giám sát thực hiện chính sách đối với lao động nữ; phối hợp kiểm tra, giám sát và tư vấn pháp luật cho người lao động…
Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ nữ có chuyển biến tích cực. Nhiều nơi, công đoàn chủ động tham mưu, đề xuất với cấp uỷ Đảng cùng cấp trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ; giới thiệu cán bộ nữ ưu tú để Đảng, Nhà nước đào tạo, bồi dưỡng trở thành cán bộ lãnh đạo các cấp. Tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn, Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh, thành phố, ngành Trung ương đạt bình quân khoảng 24%.
Các hoạt động xã hội trong đoàn viên, lao động nữ của công đoàn các cấp được đẩy mạnh, Quỹ “Vì nữ công nhân, lao động nghèo”, Quỹ “Tài năng sáng tạo nữ” và Quỹ “Bảo trợ trẻ em Công đoàn Việt Nam” ngày càng phát triển.
Chương trình phối hợp hoạt động giữa Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ, giữa Công đoàn với Hội phụ nữ các cấp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X Công đoàn Việt Nam và Đại hội Phụ nữ Việt Nam lần thứ X được cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch công tác được triển khai rộng khắp ở các địa phương, ngành, cơ sở.
7. Công tác tài chính và hoạt động kinh tế công đoàn
Các cấp công đoàn đã thực hiện tương đối tốt công tác thu – chi; quản lý tài chính công đoàn theo quy định của Nhà nước và của Tổng Liên đoàn; sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cho sinh hoạt văn hoá, thi đua khen thưởng, phúc lợi xã hội, trả lương, phụ cấp cho cán bộ công đoàn và các hoạt động khác của đoàn viên và người lao động; ưu tiên kinh phí cho công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, hoạt động bảo vệ đoàn viên, người lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp.
Trong đầu tư xây dựng cơ bản, các cấp công đoàn đã tập trung xây dựng trụ sở làm việc của Liên đoàn Lao động cấp huyện, công đoàn các khu công nghiệp và trường nghề. Nguồn vốn xây dựng cơ bản đã phát huy hiệu quả đầu tư, hạn chế đầu tư dàn trải, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Nhà nước và Tổng Liên đoàn.
Trong hoạt động kinh tế, Tổng Liên đoàn và Liên đoàn Lao động các địa phương, công đoàn ngành đã thực hiện sắp xếp, chuyển đổi 49 đơn vị theo đề án sắp xếp chuyển đổi các doanh nghiệp công đoàn Ban Bí thư phê duyệt, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm và thu nhập thường xuyên cho hơn 3.000 lao động.
8. Công tác đối ngoại
Công đoàn Việt Nam đã chủ động mở rộng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với công đoàn các nước, các tổ chức công đoàn khu vực và quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế, các hoạt động của phong trào công đoàn thế giới. Thông qua hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế, Công đoàn Việt Nam tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác về kỹ thuật, tài chính, kinh nghiệm của công đoàn các nước, các tổ chức công đoàn khu vực và quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và Tổ chức Lao động quốc tế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ công đoàn. Đóng góp tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế của đất nước.
9. Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện
Công đoàn các cấp tích cực, chủ động triển khai tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành và sự chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn, từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động.
Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn lựa chọn những vấn đề then chốt, có tác động lớn đến đoàn viên, người lao động và công đoàn để tập trung nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện; Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động công đoàn. Các cấp công đoàn chủ động xây dựng, thực hiện tương đối tốt chương trình, kế hoạch công tác theo các Nghị quyết của Ban Chấp hành và sự chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn.
Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện đã hướng nhiều hơn về cơ sở và người lao động. Đảng đoàn, Thường trực Đoàn Chủ tịch họp hàng tuần, Cơ quan Tổng Liên đoàn và hầu hết các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn duy trì chế độ giao ban công tác hàng tháng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ.
Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn hàng năm đều làm việc với Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, đoàn thể liên quan để kiểm điểm kết quả thực hiện chương trình phối hợp công tác. Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã ban hành một số nghị quyết quan trọng để định hướng nội dung hoạt động công đoàn. Đến nay, hầu hết các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn và khoảng 80% công đoàn cấp cơ sở, cấp trên trực tiếp cơ sở có quy chế phối hợp với chính quyền, chuyên môn đồng cấp.
Công tác điều tra, khảo sát, hội thảo, nghiên cứu khoa học … được tăng cường; bộ máy tổ chức và cán bộ công đoàn các cấp tiếp tục được củng cố, kiện toàn từng bước phù hợp với yêu cầu mới. Công tác thông tin, báo cáo, văn thư, lưu trữ, thống kê có những tiến bộ, dần dần đi vào nền nếp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động công đoàn được quan tâm và đầu tư đúng mức, mang lại hiệu quả thiết thực. Trang thông tin điện tử của Tổng Liên đoàn và của một số ngành, địa phương từng bước nâng cao chất lượng, thường xuyên cập nhật thông tin, góp phần phục vụ tốt hơn cho công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo công đoàn các cấp.
III. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Hạn chế, khuyết điểm
- Chất lượng tham gia xây dựng, hoàn thiện một số chính sách, pháp luật liên quan đến đoàn viên, người lao động và công đoàn chưa cao. Vai trò tham gia quản lý, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động ở một số ngành, địa phương, cơ sở hiệu quả còn thấp. Công tác kiểm tra, tham gia kiểm tra, giám sát thực hiện chế độ, chính sách chưa đồng đều, có nơi còn hình thức. Công đoàn cơ sở chưa lãnh đạo được đình công theo quy định của pháp luật, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công còn bị động, lúng túng. Hoạt động tư vấn pháp luật, tư vấn nghề, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu của đoàn viên, người lao động.
- Việc tuyên truyền chính sách, pháp luật, phối hợp tổ chức học tập nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp cho người lao động ở khu vực ngoài nhà nước còn hạn chế. Công tác giới thiệu đoàn viên công đoàn ưu tú cho Đảng ở các doanh nghiệp, nhất là khu vực ngoài nhà nước và việc vận động, tổ chức cho người lao động trực tiếp lao động sản xuất tham gia học tập nâng cao trình độ chưa nhiều.
- Việc tổ chức, chỉ đạo thi đua chưa đồng đều ở các loại hình cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, chưa chú ý đúng mức đến đối tượng trực tiếp lao động sản xuất và còn tràn lan. Việc phát huy, nhân rộng các điển hình tiêu biểu còn hạn chế.
- Công tác quản lý đoàn viên chưa thật chặt chẽ. Việc phối hợp chỉ đạo công đoàn cơ sở giữa Công đoàn ngành Trung ương và Liên đoàn Lao động địa phương còn một số bất cập. Nội dung, phương thức hoạt động ở nhiều nơi không theo kịp sự chuyển đổi của các loại hình doanh nghiệp. Việc phân loại công đoàn cơ sở hằng năm ở một số ngành, địa phương, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở chưa sát với hiệu quả hoạt động của cơ sở. Nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn chưa gắn với tiêu chuẩn, quy hoạch, sử dụng cán bộ. Đội ngũ cán bộ công đoàn vẫn còn một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của đoàn viên và hoạt động công đoàn. Công tác quản lý cán bộ ở một số ngành, địa phương chưa tốt; việc luân chuyển cán bộ của công đoàn cấp trên cơ sở và cử cán bộ công đoàn đi thực tế ở cơ sở còn ít.
- Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kết quả một số công trình nghiên cứu chậm được ứng dụng trong thực tiễn.
- Công tác quản lý tài chính còn để thất thu kinh phí và đoàn phí công đoàn. Một số đơn vị xảy ra sai phạm về chi tiêu, quản lý quỹ tiền mặt. Công tác sắp xếp, chuyển đổi các doanh nghiệp chậm, hiệu quả hoạt động kinh doanh ở một số doanh nghiệp còn thấp.
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở một số nơi chưa sát cơ sở; công việc đề ra còn dàn trải. Còn chồng chéo trong tổ chức thực hiện một số chuyên đề, chưa tạo được nhiều đột phá mạnh mẽ. Tổng Liên đoàn đề ra một số chủ trương về công tác tổ chức, cán bộ nhưng không thực hiện được. Chất lượng thông tin, báo cáo của một số địa phương, ngành, cơ sở chưa tốt.
2. Nguyên nhân hạn chế, khuyết điểm
a. Nguyên nhân chủ quan
- Nhận thức của một bộ phận đoàn viên, người lao động, cán bộ công đoàn về giai cấp công nhân, về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đầy đủ, sâu sắc.
- Trình độ, năng lực một bộ phận cán bộ công đoàn chưa theo kịp thực tiễn phát triển của đất nước, chưa thật sự năng động, sáng tạo, sâu sát cơ sở trong công tác
công đoàn.
- Các chức năng của công đoàn còn chậm được cụ thể hoá và vận dụng thực hiện linh hoạt cho phù hợp với
tổ chức và hoạt động công đoàn trong từng thành phần kinh tế.
- Việc xác định nhiệm vụ, phân công, phân cấp chỉ đạo với công đoàn cấp trên cơ sở, Công đoàn ngành Trung ương và Liên đoàn Lao động địa phương còn một số vướng mắc nhưng chậm được giải quyết. Tình trạng hành chính, quan liêu, kinh nghiệm chủ nghĩa chưa được khắc phục triệt để trong một bộ phận cán bộ công đoàn.
- Tài chính của công đoàn còn gặp nhiều khó khăn, không đủ cho hoạt động ở nhiều ngành, địa phương, cơ sở. Chưa khắc phục được triệt để tư tưởng trông chờ, thiếu chủ động trong công tác tài chính.
b. Nguyên nhân khách quan
- Những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường và những tiêu cực trong xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động và hoạt động công đoàn.
- Hệ thống pháp luật, chính sách chưa đồng bộ; một số văn bản, quy định được ban hành nhưng còn chồng chéo và không nhất quán, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trên một số mặt còn hạn chế; một số quy định của pháp luật không được thực thi nghiêm túc; quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ ở nhiều nơi còn bị vi phạm.
- Chưa có cơ chế đầy đủ và chặt chẽ để bảo vệ cán bộ công đoàn, nhất là đối với cán bộ không chuyên trách.
- Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam nhưng những vấn đề bức xúc đã nêu trong Nghị quyết đến nay vẫn chưa được thực hiện đầy đủ; nhiều cơ chế, chính sách chưa được ban hành. Một số cấp uỷ và cơ quan chính quyền nhận thức chưa đúng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn, có lúc còn coi nhẹ hoặc can thiệp quá sâu vào hoạt động của công đoàn; có những chính sách, chế độ liên quan đến CNVCLĐ, cán bộ công đoàn không phù hợp, công đoàn đã kiến nghị nhiều lần nhưng chưa được nghiên cứu bổ sung, sửa đổi. Kinh phí dành cho sự phát triển tổ chức và hoạt động của công đoàn cơ sở ngoài nhà nước còn rất hạn chế.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Một là, hoạt động công đoàn phải bám sát quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; coi trọng công tác phối hợp với chính quyền, cơ quan hữu quan, các tổ chức chính trị – xã hội, người quản lý để tạo thành sức mạnh tổng hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn.
Hai là, hoạt động công đoàn phải hướng về cơ sở, chăm lo đời sống, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, phục vụ lợi ích thiết thân, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên và người lao động; tập trung củng cố, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh; nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở.
Ba là, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chủ động xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ công đoàn, chú ý bồi dưỡng cán bộ xuất thân, trưởng thành từ công nhân và hoạt động từ cơ sở.
Bốn là, luôn luôn cải tiến lề lối làm việc, giữ vững kỷ luật công tác, chống bệnh hành chính, hình thức đơn thuần trong hoạt động công đoàn; xác định rõ những việc trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo thực hiện; nâng cao chất lượng tham mưu cho Đảng, tham gia với Nhà nước xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp đến đoàn viên, người lao động và tổ chức công đoàn;.
Năm là, chú trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về nội dung, phương thức hoạt động công đoàn. Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác của phong trào công nhân và công đoàn quốc tế, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc và đường lối đối ngoại của Đảng.