Đăng: 17:01 29-10-2014 | Tác giả: | Nguồn:
Tất cả những yếu kém nêu trên nếu không được khắc phục thì trong những năm tới, vai trò và vị thế của DNNN sẽ bị sụt giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng kiểm soát nền kinh tế của Nhà nước, cũng như gây khó khăn cho nước ta trên con đường hướng đến chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, vấn đề tái cấu trúc, đổi mới để DNNN hoạt động thực sự có hiệu quả, qua đó thực hiện tốt vai trò là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế nhà nước, là công cụ hỗ trợ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội là việc làm hết sức cấp bách.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XI, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015” tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 (trước đó Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 17/1/2012 về việc đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN).
Năm 2013, triển khai Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, ngày 19/2/2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 339/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020, trong đó tập trung tái cơ cấu đầu tư công, các tổ chức tín dụng, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.
Đối với Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, kể từ khi triển khai thực hiện quyết định số 216/2006/QĐ-TTg ngày 29/9/2006 của Thủ tướng phê duyệt Đề án chuyển Tổng công ty sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con và quyết định số 1366/QĐ-TTg ngày 18/10/2006 phê duyệt chiến lược phát triển Tổng công ty 5 năm giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020, Tổng công ty (TCT) đã xây dựng được cơ chế quan hệ giữa TCT và các doanh nghiệp trực thuộc TCT từ hình thức quản lý mang tính chất quản lý hành chính sang cơ chế đầu tư vốn, trong đó Công ty mẹ đóng vai trò là chủ sở hữu góp vốn tại các doanh nghiệp, thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu góp vốn thông qua người đại diện phần vốn góp của mình; về cơ bản, duy trì được tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu sản lượng vận tải, các Cảng biển do TCT quản lý và khai thác theo đúng quy hoạch, hoạt động ổn định, lượng hàng thông qua một số cảng vượt mức công suất thiết kế, hệ thống kho tàng, bến bãi được chú trọng phát triển…
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng làm xuất hiện một số tồn tại, hạn chế. Việc sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong TCT còn chậm; sau cổ phần hóa, một số doanh nghiệp chưa có đổi mới thực sự trong quản trị công ty, phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tính công khai, minh bạch chuyển biến chậm, nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần như tiền lương, thưởng… vẫn còn áp dụng như trước cổ phần hóa; cải cách doanh nghiệp mới tập trung chủ yếu vào các giải pháp sắp xếp, tổ chức lại nhưng chưa nhấn mạnh giải pháp nâng cao trình độ trang thiết bị, công nghệ sản xuất kinh doanh (SXKD) để tăng khả năng cạnh tranh; tổ chức quản lý điều hành SXKD đổi mới chậm, chưa theo kịp với sự phát triển của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường; năng lực dự báo còn hạn chế, việc xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch đầu tư, phát triển SXKD có đơn vị không phù hợp với khả năng huy động vốn và nguồn vốn tự có, với khả năng quản lý doanh nghiệp.
Hoạt động quản lý, giám sát của TCT đối với một số doanh nghiệp sau cổ phần hóa chưa chặt chẽ nhất là đối với doanh nghiệp vốn nhà nước không còn chi phối; hoạt động giám sát chưa có tác dụng cảnh báo và ngăn ngừa việc sử dụng kém hiệu quả vốn và tài sản nhà nước đầu tư; cơ chế giám sát việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ và bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhà nước còn thiếu đồng bộ;
Mô hình tổ chức đảng trong doanh nghiệp chưa thực sự phù hợp với mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp và tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội. Một số cấp ủy đảng chưa có sự đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của doanh nghiệp theo cơ chế mới. Quy hoạch, bố trí cán bộ chuyên môn ở một số tổ chức cơ sở đảng trong DNNN chưa đồng bộ với kiện toàn cấp ủy; đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu; quy trình, thủ tục trong quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ còn có một số bất cập và có nơi chưa thực hiện nghiêm túc.
Ngày 4/2/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 276/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tái cơ cấu Tổng công ty Hàng hải Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015 với mục tiêu: Bảo đảm Tổng công ty Hàng hải Việt Nam có cơ cấu hợp lý, tập trung vào 3 lĩnh vực chính là vận tải biển, khai thác cảng biển và dịch vụ hàng hải, từng bước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn 2012 – 2015, tạo sự ổn định và phát triển phù hợp với điều kiện thị trường giai đoạn 2016 – 2020, là doanh nghiệp nhà nước nòng cốt trong lĩnh vực vận tải biển, khai thác cảng biển và dịch vụ hàng hải, góp phần thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Theo Đề án, ngành nghề kinh doanh chính của TCT là kinh doanh vận tải đường biển, đường thủy, đường bộ, đa phương thức; khai thác cảng biển, cảng sông; kinh doanh kho, bãi, dịch vụ logistics; đại lý môi giới cung ứng dịch vụ hàng hải; cung ứng tàu biển, dịch vụ lai dắt tàu biển, tàu sông, đưa đón thuyền viên và các dịch vụ hỗ trợ hoạt động đường thủy; ngành, nghề kinh doanh có liên quan đến ngành, nghề kinh doanh chính và ngành, nghề kinh doanh khác.
Công ty mẹ – TCT Hàng hải Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, thực hiện cổ phần hóa trong năm 2015; các đơn vị hoạch toán phụ thuộc TCT gồm: Công ty Xuất khẩu lao động hàng hải; Chi nhánh TCT tại TP Hồ Chí Minh; Chi nhánh TCT tại Hải Phòng và Văn phòng đại diện của TCT tại Singapore.
Đề án nêu rõ việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh và tái cơ cấu đầu tư, trong đó tập trung khai thác các cảng hiện có, ưu tiên đầu tư đồng bộ để khai thác có hiệu quả cụm cảng phía Bắc tại khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh và cụm cảng phía Nam khu vực Cái Mép – Thị Vải và khu vực TP Hồ Chí Minh; cơ cấu lại đội tàu phù hợp với nhu cầu của thị trường, có phương án bán những tàu cũ khai thác không hiệu quả để giảm lỗ; phát triển đồng bộ dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, đặc biệt là dịch vụ logistics, hướng đến dịch vụ trọn gói và mở rộng ra nước ngoài, hình thành một số cảng cạn, trung tâm phân phối hàng hóa và các loại hình dịch vụ hàng hải tiên tiến khác ở các khu vực đầu mối vận tải…
Cũng theo Đề án, có 2 doanh nghiệp do Công ty mẹ – TCT Hàng hải Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ; 9 doanh nghiệp cổ phần do TCT nắm giữ 75% vốn điều lệ; 7 doanh nghiệp cổ phần do TCT nắm giữ trên 50 – 65% vốn điều lệ; 14 doanh nghiệp do TCT nắm giữ từ trên 50% – 65% vốn điều lệ; 4 doanh nghiệp do TCT nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.
Về thoái vốn: thoái vốn góp của TCT đã đầu tư tại 37 doanh nghiệp trong giai đoạn 2012 – 2015; sáp nhập Công ty Thương mại xăng dầu đường biển vào Công ty Kinh doanh xăng dầu Vinalines phía Bắc, thực hiện cổ phần hóa TCT không nắm giữ cổ phần. Cùng với đó, thực hiện giải thể 2 doanh nghiệp là Chi nhánh TCT tại Cần Thơ và Liên doanh Trung tâm Nhân lực hàng hải Đông Nam Á (Vina-STC); thực hiện phá sản 2 doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV Vận tải viễn dương Vinashin (Vinashinlines) và Công ty cổ phần Vận tải dầu khí Việt Nam (Falcon); đồng thời, tái cơ cấu tài chính, nguồn nhân lực, quản trị doanh nghiệp…
Đề án cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ GTVT, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quyết định; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét tái cơ cấu nợ đối với các khoản vay mua, đóng mới tàu biển của Tổng công ty, xem xét cho vay vốn lưu động phục vụ kinh doanh của đội tàu./.
C.D.L
Công đoàn Tổng công ty