Giới thiệu về Tổng công ty Hàng hải Việt Nam

Ngày 29/4/1995, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) được thành lập theo Quyết định số 250/TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở sắp xếp lại một số doanh nghiệp vận tải biển, bốc xếp và dịch vụ hàng hải do Cục Hàng hải Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải quản lý. Hoạt động theo điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam do Chính phủ phê chuẩn tại Nghị định số 79/CP ngày 22/11/1995.
Tại thời điểm thành lập, Tổng công Hàng hải Việt Nam gồm có 22 Doanh nghiệp nhà nước, 2 Công ty cổ phần và 9 Công ty Liên doanh với nước ngoài. Vốn kinh doanh là 1.469 tỷ VND. Sở hữu đội tàu gồm 49 chiếc, tổng trọng tải 369.696 DWT. Sản lượng vận tải đạt 4 triệu tấn, bốc xếp đạt 12,3 triệu tấn.
Từ tháng 7/2010, Vinalines hoạt động theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Quyết định số 985/QĐ-TTg ngày 25/6 Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển đổi Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng hải Việt Nam thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Theo kế hoạch phát triển Tổng công ty giai đoạn 2006 – 2010, Vinalines phát triển đội tàu theo hướng tăng các loại tàu chuyên dụng, đến 2010 đạt tổng trọng tải 2,6 triệu DWT, độ tuổi bình quân 16 năm. Định hướng đến 2020, tổng trọng tải đội tàu thuộc Vinalines chiếm 40-50% tổng trọng tải đội tàu biển quốc gia.
Tiếp tục đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh các cảng hiện có. Tiến hành xây dựng các bến mới tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh nhằm đảm bảo năng lực thông qua toàn cảng Tổng công ty đạt tối thiểu 50-55 triệu tấn vào năm 2010. Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cảng Vân Phong, Khánh Hoà thành cảng trung chuyển quốc tế có quy mô lớn và hiện đại, đầu tư xây dựng cảng container Vũng Tàu tại Bến Đình – Sao Mai và cảng nước sâu Lạch Huyện tại Hải Phòng. Đến năm 2010, hoàn thành giai đoạn đầu việc xây dựng hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ cho hoạt động logistics và dịch vụ hàng hải tại cả 3 vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Tính đến giữa năm 2010, Vinalines có 14 đơn vị hạch toán phụ thuộc (bao gồm các Công ty hạch toán phụ thuộc, Chi nhánh, Văn phòng đại diện); 1 đơn vị sự nghiệp; 28 công ty con (bao gồm các Công ty hạch toán độc lập, Công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần, Công ty TNHH 2 thành viên, Liên doanh); 36 Công ty liên kết. Đội tàu của Tổng công ty gồm 149 chiếc, với tổng trọng tải đạt 2,7triệu tấn, chiếm 45% tổng trọng tải của đội tàu biển quốc gia.
Sau 15 năm hoạt động, Vinalines đã chứng tỏ năng lực quản lý hiệu quả dù gặp nhiều khó khăn sau cuộc khủng hoảng kinh tế ASEAN. Trước những biến động của thị trường hàng hải và những khó khăn tài chính, đã có nhiều biện pháp thích hợp được áp dụng để duy trì sự tăng trưởng liên tục trong hoạt động kinh doanh và đầu tư của toàn Tổng công ty. Với những kế hoạch đang được triển khai về cải tạo và phát triển cảng biển, đầu tư mở rộng đội tàu và nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ, Vinalines cùng các thành viên tự tin, lạc quan tiến về phía trước.

Ngành, nghề kinh doanh:
•    Vận tải hành khách ven biển và viễn dương;
•    Vận tải hàng hóa ven biển và viễn dương;
•    Kho bãi và lưu giữ hàng hóa: Kho bãi và lưu giữ hàng hóa trong kho ngoại quan; Kho bãi và lưu giữ hàng hóa trong kho đông lạnh; Kho bãi và lưu giữ hàng hóa trong kho khác;
•    Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường sắt và đường bộ;
•    Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường thủy ven biển, viễn dương và đường thủy nội địa;
•    Bốc xếp hàng hóa: Bốc xếp hàng hóa đường bộ, bốc xếp hàng hóa cảng biển;
•    Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải; Đại lý tàu biển; đại lý vận tải đường biển; khai thuê hải quan;
•    Vận tải hàng hóa đường bộ bằng ô tô; Vận tải hàng hóa bằng phương tiện đường bộ khác;
•    Vận tải hành khách đường bộ trong nội thành, ngoại thành;
•    Cho thuê máy móc, thiết bị và đồ dùng hữu hình khác;
•    Kinh doanh dịch vụ khách sạn, biệt thự hoặc căn hộ lưu trú ngắn ngày (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường);
•    Kinh doanh dịch vụ nhà khách, nhà nghỉ và dịch vụ lưu trú ngắn ngày (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường);
•    Nhà hàng, quán ăn, hàng ăn uống; Dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karakoe, vũ trường);
•    Cung cấp dịch vụ ăn uống theo  hợp đồng không thường xuyên với khách hàng (phục vụ tiệc, hội họp, đám cưới);
•    Dịch vụ phục vụ đồ uống;
•    Hoạt động của các công viên vui chơi và công viên theo chủ đề;
•    Nạo vét lòng sông, lòng hồ, cảng biển theo hợp đồng;
•    Đóng tàu và cấu kiện nổi;
•    Sửa chữa và bảo dưỡng các phương tiện vận tải;
•    Cung ứng và quản lý nguồn lao động: Cung ứng và quản lý nguồn lao động trong nước; Cung ứng và quản lý nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài (Hoạt động theo Giấy phép số 159/LĐTBXH-CP ngày 29/9/2008 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp); (Không bao gồm giới thiệu, tuyển chọn, cung ứng nhân lực cho các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động)
•    Bán buôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan: Dầu thô, xăng, dầu và các sản phẩm liên quan; Khí đốt và các sản phẩm liên quan;
•    Bán lẻ nhiên liệu động cơ trong các cửa hàng chuyên doanh;
•    Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng;
•    Bán lẻ sản phẩm thuốc lá trong các cửa hàng chuyên doanh;
•    Đại lý du lịch; Điều hành tour du lịch; Dịch vụ hỗ trợ liên quan đến quảng bá và tổ chức tour du lịch;
•    Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê;
•    Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác: Công trình đường thủy, bến cảng, các công trình trên sông, cảng du lịch, cửa cống, đập, đê, đường hầm, công trình thể thao ngoài trời;
•    Xây dựng nhà các loại;
•    Phá dỡ và chuẩn bị mặt bằng;
•    Xuất nhập khẩu các mặt hàng do doanh nghiệp kinh doanh

 

Nguồn: www.vinalines.com.vn